1) Đạo có trước Thượng Đế vs Thượng Đế có trước Đạo
Văn minh Đạo của phương Đông cho rằng Đạo có trước Thượng Đế: “Đạo làm cho quỷ thần linh thiêng, làm cho Thiên đế linh thiêng” (Trang Tử, Nội thiên). Khái niệm thần linh do con người sống trong tự nhiên tạo ra. Tự nhiên chính là Đạo.29 Tự nhiên (自然) có nghĩa là “tự nó như vậy”. Tự nhiên là vô hạn và vĩnh hằng.
Tự nhiên là vô hạn và vĩnh hằng. Vì sao tự nhiên vô hạn và vĩnh hằng? Vì tự nhiên không có mục đích và không mong cầu điều gì. (Đạo Đức Kinh, chương 7)
Triết gia Hy Lạp Heraclitus có một vũ trụ luận giống hệt triết học về Đạo. Ông giải thích rằng vũ trụ, cosmos, có trước thần linh.
Vũ trụ, cosmos, là vĩnh hằng; không phải thần linh hay con người làm ra nó; nó đã luôn có, đang có và sẽ có.30
Những triết gia như Bacon (1561–1626) say mê tự nhiên. Suốt một nghìn năm thời Trung cổ, ở phương Tây, mọi suy nghĩ hay triết học không lấy Thượng Đế làm trung tâm đều bị cấm. Chịu ảnh hưởng ấy, Bacon buộc phải thận trọng. Không gắn Thượng Đế với tự nhiên, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của tự nhiên bằng những lời lẽ hết sức mạnh mẽ.
Con người là nô bộc của tự nhiên, và chỉ là người diễn giải nó. Sự hiểu biết của con người chỉ đến từ suy nghĩ về tự nhiên và từ quan sát chân lý của nó. Ngoài điều đó ra, con người không thể biết gì và cũng không thể làm gì.31
Sau Bacon, tầm quan trọng của tự nhiên được diễn đạt một cách quyết định nơi triết gia Spinoza (1632–1677). Spinoza xem Thượng Đế là tự nhiên. Vì triết học trung cổ phương Tây lấy Thượng Đế làm trung tâm, Spinoza giải thích Thượng Đế dưới ánh sáng của tự nhiên. Gắn Thượng Đế với tự nhiên, ông đặt tự nhiên vào trung tâm triết học của mình.
Tự nhiên không vận hành vì một mục đích nào. Thực thể vĩnh hằng mà ta gọi là Thượng Đế, tức Tự nhiên, chỉ vận hành theo đúng cái tất yếu mà nhờ đó nó tồn tại… Tự nhiên không tồn tại vì một mục đích nào. Hành động của nó cũng vậy. Cũng như sự tồn tại của nó, hành động của nó không có khởi nguyên cũng không có mục đích.32
Các tôn giáo mặc khải của phương Tây lấy “khởi đầu” làm cốt lõi của vũ trụ, và khái niệm khởi đầu đương nhiên bao hàm mục đích luận. Bertrand Russell nói thế này: không có lý do gì để nghĩ rằng thế giới đã có một khởi đầu; ý nghĩ rằng thế giới phải có khởi đầu thực ra là do sự nghèo nàn của trí tưởng tượng của chúng ta. Ông có một lý thuyết triết học tự nhiên giống Đạo Đức Kinh: “tự nhiên không có mục đích”.
Tự nhiên không có mục đích của riêng nó… Cái gọi là mục đích tối hậu chỉ là thứ do trí tưởng tượng của con người tạo ra. 33
Quan điểm về Đạo của phương Đông, cùng quan điểm của Heraclitus, Bacon, Spinoza và Russell ở phương Tây, đều có thể được giải thích như một triết học tự nhiên lấy tự nhiên làm trọng tâm. Một vũ trụ quan khác được triển khai ở phương Tây, theo chủ trương của các tôn giáo mặc khải. Ở phương Tây, vì Thượng Đế tạo dựng tự nhiên, người ta cho rằng Thượng Đế có trước tự nhiên. Vì Thượng Đế tạo dựng trời đất, trước khi Thượng Đế tạo dựng thì không có tự nhiên. Trái đất mà Thượng Đế tạo dựng là trung tâm của vũ trụ, và con người đứng ở trung tâm ấy. Sáng Thế Ký trong Ngũ Kinh Môi-se kể lại việc Đức Chúa Trời tạo dựng trời đất, tự nhiên và con người từ chỗ không có gì, từ Vô (無), để bước vào thế giới của Hữu (有).
Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. (Sáng Thế Ký 1:1)
Đất vô hình và trống không, bóng tối ở trên mặt vực sâu; Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.
Đức Chúa Trời phán: Phải có ánh sáng; thì có ánh sáng. Đức Chúa Trời thấy ánh sáng là tốt lành; Ngài phân ánh sáng ra khỏi bóng tối. Đức Chúa Trời gọi ánh sáng là ngày, bóng tối là đêm. Có buổi chiều và buổi sáng; ấy là ngày thứ nhất. (Sáng Thế Ký 1:2-5)
Theo Kinh Thánh, Thượng Đế tạo dựng vũ trụ trong sáu ngày, theo thứ tự sau. Ngày thứ nhất, ánh sáng. Ngày thứ hai, bầu trời. Ngày thứ ba, biển, đất liền và cây cỏ. Ngày thứ tư, mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Ngày thứ năm, cá và chim. Ngày thứ sáu, thú vật trên đất và con người (con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thượng Đế). Và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ. Như thế, thế giới đi từ vô trật tự đến trật tự, từ hỗn mang đến một thế giới ngăn nắp. Việc tạo dựng ấy được thực hiện bằng “lời” của Thượng Đế.
Trung Quốc cũng có huyền thoại khai thiên lập địa. Một thực thể tên là Bàn Cổ (盤古) dùng chiếc rìu khổng lồ bổ đôi hỗn mang, tách trời khỏi đất. Rồi ông đội trời suốt một vạn tám nghìn năm, lớn lên theo năm tháng, và khi chết, thân thể ông biến thành tự nhiên. 34 Mắt thành mặt trời và mặt trăng, hơi thở thành gió và mây, giọng nói thành sấm, máu thành sông biển, xương thành núi non, lông tóc thành cỏ cây, mồ hôi thành mưa, còn bọ chét thành muông thú và con người.
Thuở ban đầu có một vị thần tên là Bàn Cổ… Khi đến lúc chết, thân thể ông biến thành tự nhiên… Tóc và lông của ông thành cỏ cây, mắt ông thành mặt trời và mặt trăng… Những con bọ chét sống trên thân ông trở thành muôn loài vật và các giống người trên trái đất.35
Tư tưởng cho rằng thân thể của thần trở thành các bộ phận của tự nhiên được thể hiện y nguyên trong một khái niệm chủ yếu của triết học Kabbalah của Do Thái giáo, vốn ảnh hưởng đến Spinoza: khái niệm co rút, tzimtzum.36 Khái niệm này quy định rằng “Thượng Đế co rút sự vô hạn của chính mình để tạo dựng thế giới”, một quan niệm khai thiên lập địa rất giống huyền thoại sáng thế Bàn Cổ. (Theo mạch tư duy này, Spinoza đi đến kết luận rằng “Thượng Đế và tự nhiên là một”.)
Theo huyền thoại này, Bàn Cổ trở thành tự nhiên từ 18.000 năm trước. Còn Thượng Đế trong Sáng Thế Ký tạo dựng tự nhiên vào lúc nào? Khác với huyền thoại Bàn Cổ, văn minh phương Tây, một nền văn minh của sự sáng tạo, ghi chép chi tiết việc Thượng Đế tạo dựng vũ trụ. Các triết gia phương Tây đã tin điều đó suốt hàng nghìn năm, và cho đến cách đây không lâu vẫn còn tính “ngày” tự nhiên được tạo dựng. Sau sáu ngày sáng tạo, con người đầu tiên là A-đam sống 930 năm, và con cháu ông sống bao lâu đều được ghi lại đầy đủ (Sáng Thế Ký, chương 5). Các sách Phúc Âm của Tân Ước cũng ghi chi tiết gia phả từ Áp-ra-ham đến Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 1:1-17).
Dựa theo lời kể của Kinh Thánh, các triết gia phương Tây tính ngày tháng từ khi tạo dựng trời đất cho đến khi Chúa Giê-su ra đời. Theo những phép tính ấy, trời đất được tạo dựng vào khoảng năm 4000 TCN. Việc tính toán tiếp tục, và đến đầu thời Trung cổ, người ta còn đưa ra cả ngày tháng chính xác. Ở phương Tây, cách tính ngày tạo dựng trời đất được nhiều triết gia tiếp tục cho đến thế kỷ XVII. Lối tư duy này biến mất cùng với thuyết thần giáo tự nhiên (理神論, Deism) thời Khai sáng và sự phát triển của khoa học. Thuyết thần giáo tự nhiên chủ trương rằng Thượng Đế siêu việt, sau khi tạo dựng tự nhiên, không còn can thiệp vào thế sự nữa.37 Thuyết thần giáo tự nhiên phủ nhận các nhà tiên tri và phép lạ của hữu thần luận, nhưng không khác hữu thần luận ở chỗ cho rằng Thượng Đế đã tạo dựng tự nhiên.
Trong câu trả lời cho câu hỏi Đạo và Thượng Đế, ai có trước, Đông và Tây đã có những vũ trụ luận khác nhau, và từ điểm khởi đầu ấy, Đông và Tây có những cấu trúc văn minh khác nhau. Vấn đề này gắn trực tiếp với việc diễn giải hiện tượng tự nhiên, tức con người giải thích vũ trụ như thế nào. Thuyết nhật tâm và thuyết địa tâm liên quan đến đây.
Thuyết địa tâm của tôn giáo mặc khải vs thuyết nhật tâm của triết học tự nhiên
Đạo Đức Kinh ghi rằng “tự nhiên và vũ trụ có trước thần linh” (Đạo Đức Kinh, chương 4, chương 25). Ngược lại, phương Tây ghi rằng “ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”, tức Đức Chúa Trời có trước tự nhiên và vũ trụ (Sáng Thế Ký 1:1). Từ đây, câu trả lời cho câu hỏi con người là ai ở Đông và Tây trở nên khác nhau. Xét về vũ trụ luận, thuyết sáng tạo của phương Tây dựa trên thuyết địa tâm, cho rằng trái đất nơi con người sinh sống là trung tâm của vũ trụ; nói cách khác, thuyết địa tâm nằm sẵn trong thuyết sáng tạo. Ngược lại, triết học tự nhiên của phương Đông chấp nhận cách giải thích rằng vũ trụ là trung tâm và con người là một phần của vũ trụ.
Do ảnh hưởng của Giáo hội, người phương Tây được dạy phải tin y nguyên những ghi chép về sự sáng tạo, không một chữ nghi ngờ. Vì thế, gần như mọi người phương Tây đều tin chắc vào thuyết sáng tạo cho đến thời Khai sáng cuối thế kỷ XVII. Và nền tảng của thuyết sáng tạo ấy là tiền đề rằng Thượng Đế tạo ra tự nhiên để con người tùy ý thống trị. Người phương Tây tin rằng mình là những hữu thể “được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời, để quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời, mọi loài bò sát trên mặt đất, và khắp cả đất”. Thuyết địa tâm (天動說) của tôn giáo mặc khải tin rằng trái đất và con người là trung tâm của thế giới, và vũ trụ quay quanh trái đất. Vì vậy, người ta mới có thể cầu xin Thượng Đế làm cho mặt trời dừng lại, như Giô-suê đã làm:
Trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, ông kêu lên: “Hỡi mặt trời, hãy dừng lại trên Ga-ba-ôn; hỡi mặt trăng, hãy ngừng lại trên trũng A-gia-lôn!” Mặt trời bèn dừng lại, mặt trăng bèn ngừng lại, cho đến khi dân sự báo thù quân nghịch mình xong…… Mặt trời dừng lại giữa trời gần trọn một ngày, không vội lặn. Trước và sau ngày đó, chưa hề có ngày nào mà Chúa nghe lời của một người như vậy. (Giô-suê 10:12-14)
Cho đến thế kỷ XVI, người phương Tây vẫn ủng hộ thuyết địa tâm của Aristotle và Ptolemy, cho rằng trái đất là trung tâm của thế giới, trái đất phẳng, và các thiên thể trôi nổi bên trên. Giả thuyết này phù hợp với lời mô tả việc tạo dựng trời đất trong Sáng Thế Ký của Ngũ Kinh Môi-se. Theo thuyết sáng tạo, Thượng Đế ban cho con người một mục đích khi tạo dựng họ. Trong thuyết sáng tạo của phương Tây, vì Thượng Đế trao cho con người quyền thống trị tự nhiên, con người đứng ở trung tâm vũ trụ. Con người sinh ra với mục đích rõ ràng là thống trị tự nhiên và tôn thờ Thượng Đế. Vì thế, người Hy Lạp – La Mã và người phương Tây thời Trung cổ sống với niềm tin vững chắc rằng họ là trung tâm của vũ trụ.
Đối với người Hy Lạp – La Mã, hàng hải đóng vai trò quan trọng trong ý niệm con người là trung tâm của vũ trụ. Hàng hải chỉ có thể thực hiện được nhờ quan sát chuyển động của các thiên thể. Người ta muốn hình dung vũ trụ với trái đất, và con người, nằm ngay chính giữa, còn các thiên thể chuyển động quanh trái đất. Đó chính là “vũ trụ quan lấy trái đất làm trung tâm”, tức thuyết địa tâm, được Kinh Thánh, Aristotle và nhiều người khác ủng hộ. Thuyết địa tâm mà đa số người phương Tây thời ấy tin cho rằng trái đất phẳng, và mặt trời cùng mọi thiên thể đều trôi nổi trên bầu trời phía trên trái đất.
Thuyết địa tâm ấy bị thách thức bởi những người quan sát thiên thể và tự nhiên: thuyết nhật tâm xuất hiện. Ở phương Tây, năng lực tư duy của nhân loại về quan hệ giữa tự nhiên và con người đã trải qua một biến đổi quyết định vào thời kỳ chuyển từ Trung cổ sang cận đại, vì khi ấy xuất hiện cơ hội sửa đổi tận gốc quan hệ giữa con người và tự nhiên. Sự chuyển đổi từ thuyết địa tâm sang thuyết nhật tâm đã diễn ra. Phép lạ của Giô-suê, người đã làm mặt trời dừng lại trên bầu trời, bị thách thức vào thế kỷ XVI–XVII. “Vũ trụ quan lấy mặt trời làm trung tâm”, tức thuyết nhật tâm (地動說), được đưa ra trên cơ sở những sự thật khoa học từ việc quan sát thiên thể của Copernicus (1473–1543), Kepler (1571–1630) và Galileo (1564–1642). Họ chủ trương rằng trái đất không phải trung tâm của vũ trụ, mà quay quanh mặt trời.
Những sự thật khoa học mà họ đưa ra cũng bị thách thức trong một thời gian dài, do ảnh hưởng của tôn giáo vốn chủ trương thuyết địa tâm. Để sự phát triển của khoa học đảo ngược một hệ thống triết học đã bén rễ trong lịch sử phương Tây là điều không dễ. Ngay cả sau khi thuyết nhật tâm đã lan khá rộng trong giới trí thức phương Tây, Luther, người đi đầu phong trào Cải cách Tôn giáo, vẫn dựa vào thẩm quyền của Kinh Thánh để chủ trương thuyết địa tâm. Martin Luther phản đối kịch liệt thuyết nhật tâm của Copernicus:
Copernicus là một nhà chiêm tinh mới phất. Kẻ ngu này muốn đảo lộn toàn bộ thiên văn học. Nhưng Kinh Thánh dạy chúng ta rằng Giô-suê đã truyền cho mặt trời, chứ không phải trái đất, đứng yên. 38
Thuyết nhật tâm phủ nhận “vũ trụ quan lấy trái đất làm trung tâm” vốn nằm sẵn trong giáo điều Kinh Thánh rằng Thượng Đế đã tạo dựng trái đất và con người một cách đặc biệt. Đó là một sự kiện chấn động làm lung lay thuyết địa tâm của Kinh Thánh, một sự kiện long trời lở đất vạch ra sai lầm của tính vô mậu (無謬性), tức cho rằng Kinh Thánh và Giáo hội chưa từng sai, và tính vô ngộ (無誤性), tức cho rằng chúng không thể sai.
Tòa Thánh La Mã đã đàn áp quyết liệt kết quả quan sát của họ rằng trái đất chuyển động quanh mặt trời. Vì theo thuyết địa tâm, Thượng Đế đã làm mặt trời dừng lại, còn nếu theo thuyết nhật tâm của họ, mặt trời vốn đứng yên, và cái phải dừng lại là sự tự quay của trái đất. Thời ấy, đây là một vấn đề hệ trọng đến mức có thể làm đảo lộn cả trời đất. Người phương Tây đều tin chắc vào thuyết Kinh Thánh vô ngộ, và mọi chủ trương vi phạm nó đều trở thành đối tượng của Tòa án dị giáo. Bởi nếu thuyết Kinh Thánh vô ngộ bị thách thức bởi những sự thật dựa trên quan sát khoa học, và chỉ cần thừa nhận sai ở một chỗ, thì như đê vỡ, nguyên tắc Kinh Thánh vô ngộ sẽ sụp đổ. Chỉ sau một cuộc đấu tranh dài, thuyết nhật tâm mới khó khăn giành được chỗ đứng như một sự thật. Thuyết nhật tâm về chuyển động của thiên thể mà họ chủ trương không đến từ giáo điều của tôn giáo mặc khải, mà từ việc quan sát tự nhiên.
Thuyết nhật tâm, đối lập với thuyết địa tâm, đã được đưa ra từ thế kỷ III TCN, nhưng bị vùi lấp trong lịch sử gần hai nghìn năm, không ai biết đến sự tồn tại của nó, cho đến thời Phục Hưng mới được tái phát hiện. Ở phương Tây, vào thế kỷ III TCN, việc quan sát hình học và thiên văn diễn ra sôi nổi ở Alexandria, trung tâm của thế giới phương Tây thời ấy. Aristarchus (khoảng 310–230 TCN) đã tính toán một cách thực tế khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng và từ trái đất đến mặt trời. Ông chủ trương rằng dù bằng mắt thường mặt trăng và mặt trời trông lớn như nhau, nhưng vì ở xa, mặt trời lớn hơn mặt trăng hơn 20 lần. Eratosthenes (khoảng 276–195 TCN) ngay từ thế kỷ III TCN đã đo được chu vi trái đất gần như chính xác. Ông nhận biết trái đất hình cầu, và cũng là nhà khoa học đề xuất ngày nhuận. Rốt cuộc, họ là những người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đưa ra thuyết nhật tâm. Nhưng thuyết nhật tâm của họ bị các triết gia đương thời, vốn tin chắc vào thuyết địa tâm, gọi là dị giáo và lên án.
Khác biệt giữa thuyết địa tâm và thuyết nhật tâm hàm chứa một sự chuyển đổi mô thức hệ trọng, có thể thay đổi tất cả: vũ trụ quan của con người, quan hệ giữa con người và tự nhiên, vị trí của con người trong vũ trụ, mục đích của đời sống. Nhưng thuyết nhật tâm của Aristarchus và Eratosthenes đã đi trước quá xa so với nhu cầu của thời đại. Bị lấn át bởi hiệu lực của thuyết địa tâm, thuyết nhật tâm phải chờ khoảng hai nghìn năm: cho đến khi Columbus vượt Đại Tây Dương tới châu Mỹ năm 1492, Vasco da Gama qua Ấn Độ Dương tới phương Đông năm 1497, và Magellan cùng Elcano đi vòng quanh trái đất qua Đại Tây Dương và Thái Bình Dương trong những năm 1519–1522.
Quá trình xoay quanh thuyết địa tâm và thuyết nhật tâm này nói lên nhiều điều về cái gọi là “tính thích đáng” của một chân lý hay một mô thức: một chân lý không có tính thích đáng cho đến khi hoạt động của con người làm nảy sinh nhu cầu về nó. Triết học cũng không ngoại lệ. Cho đến khi lịch sử khiến con người cảm thấy cần đến nó, một triết học không có tính thích đáng, bất kể nó có phù hợp với chân lý hay không.
Thuyết nhật tâm, trở thành nhu cầu thực tế nhờ các cuộc viễn chinh trên biển, dần được thừa nhận là sự thật khi Copernicus, Kepler, Galileo và những người khác công bố kết quả quan sát rằng trái đất chuyển động quanh mặt trời. Thuyết nhật tâm đã gây ra một sự chuyển đổi mô thức trong toàn bộ tư duy của con người, kể cả vũ trụ quan. Vũ trụ rộng lớn đến đâu? Vũ trụ có mục đích không? Vũ trụ từ đâu đến? Vận hành ra sao? Đang đi về đâu? Về những câu hỏi vũ trụ ấy, chúng ta chẳng biết gì cả.39
Vấn đề thuyết địa tâm – thuyết nhật tâm chỉ đặt câu hỏi về việc tạo dựng trái đất, tức tự nhiên; còn thuyết tạo dựng con người thì vẫn bình yên vô sự. Nhưng tình thế này lại bị thách thức vào thế kỷ XIX, bởi thuyết tiến hóa của Darwin. Dựa trên cơ sở khoa học, Darwin chỉ ra rằng con người không phải do Thượng Đế nặn từ đất sét như Kinh Thánh mô tả, mà tiến hóa từ các loài động vật khác. Theo đó, lý thuyết cốt lõi của thuyết sáng tạo và vũ trụ quan lấy con người làm trung tâm mà Kinh Thánh đưa ra lại bị thách thức lần nữa.
2) Đạo là tự nhiên vs Thượng Đế là siêu nhiên
Đạo là quy luật của tự nhiên, Thượng Đế là đấng siêu nhiên. Đạo pháp tự nhiên (道法自然): Đạo noi theo tự nhiên và diễn đạt tự nhiên; Đạo chính là tự nhiên. So với các “tôn giáo mặc khải” thừa nhận phép lạ siêu nhiên, Đạo, thứ chi phối văn minh phương Đông, là một “triết học tự nhiên” diễn đạt tự nhiên. Đạo, quy luật của tự nhiên, không nghĩ đến một đấng vượt lên trên quy luật của tự nhiên và vũ trụ. Đương nhiên, tôn giáo siêu nhiên không nảy sinh trong nền văn minh phương Đông dựa vào triết học tự nhiên.40 Ngay cả ngày nay, trừ Hàn Quốc, ở các nước Đông Á chỉ khoảng 2–3% dân số tin theo tôn giáo mặc khải, kể cả Kitô giáo.
Đạo Đức Kinh không hề nhắc đến hay phân tích một vị thần siêu nhiên nào. Chỉ có sự giải thích về tự nhiên. Không có nhà tiên tri, cũng không có luật pháp. Lão Tử không phải là nhà tiên tri. Ngược lại, Môi-se là nhà tiên tri. Theo Ngũ Kinh Môi-se, Thượng Đế của phương Tây không cưỡng lại lời nài xin của Môi-se nên cho ông biết danh mình, làm phép lạ, trò chuyện trực diện với Môi-se, cho thấy một phần hình dạng của mình trên núi Si-na-i, được mô tả là Thượng Đế của công lý, của cơn thịnh nộ và của sự ghen tuông, và tự tay dùng ngón tay khắc Mười Điều Răn vào đá để trao cho Môi-se. Tất cả đều là dấu hiệu Thượng Đế can thiệp vào thế sự. Nhà tiên tri trở thành người đại diện của Thượng Đế, rốt cuộc hình thành giai cấp tư tế và đứng đầu giai cấp ấy. Tôn giáo mặc khải hình thành. Người kế vị cũng xuất hiện. Người kế vị Môi-se là Giô-suê, người đã cầu xin Thượng Đế làm phép lạ khiến mặt trời dừng lại, và thành công. Nhờ đó ông thắng trận và chiếm được miền đất hứa.
Hình ảnh Thượng Đế của phương Tây được cô đọng trong sự kiện Môi-se nhận Mười Điều Răn trên núi Si-na-i, khi Thượng Đế và con người lập giao ước. Một trong những điểm khác nhau giữa Thượng Đế của phương Tây và Đạo của phương Đông là khi can thiệp vào xã hội loài người, Thượng Đế dùng “phép lạ” siêu nhiên. Thượng Đế là đấng siêu nhiên đã tạo dựng tự nhiên. Phép lạ là siêu nhiên và phản tự nhiên: những hành vi đứng trên trật tự của tự nhiên, hoặc đi ngược lại trật tự ấy.41 Môi-se được Thượng Đế trao sứ mệnh giải cứu dân Y-sơ-ra-ên. Để thực hiện sứ mệnh ấy, Môi-se cầu xin sự giúp đỡ của Thượng Đế, và sự giúp đỡ đến dưới hình thức phép lạ:
Môi-se thưa: “Nếu họ không tin con, không nghe lời con, mà nói rằng: ‘Chúa chẳng hề hiện ra cùng ông’, thì sao?” Chúa hỏi ông: “Vật gì trong tay ngươi đó?” Ông thưa: “Một cây gậy.” Ngài phán: “Hãy ném nó xuống đất.” Môi-se ném cây gậy xuống đất, gậy liền hóa thành con rắn. (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:1-3)
Như vậy, theo lời cầu xin của Môi-se, Thượng Đế bắt đầu làm phép lạ. Qua phép lạ mười tai vạ, bắt đầu từ việc biến nước sông Nin thành máu cho đến việc giết các con trưởng nam và con đầu lòng của súc vật Ai Cập, Thượng Đế thuyết phục và đe dọa pharaoh, giúp dân Y-sơ-ra-ên ra đi. Sau đó, Thượng Đế còn che chở khi Môi-se dẫn dân Y-sơ-ra-ên từ Ai Cập đến miền đất hứa đượm sữa và mật, làm phép lạ rẽ Biển Đỏ mở lối đi cho Môi-se, và làm phép lạ rải ma-na và chim cút xuống hoang mạc làm lương thực.
Ngược lại, Đạo Đức Kinh hoàn toàn không nhắc đến hiện tượng phép lạ siêu nhiên. Bởi nó không thừa nhận cả siêu nhiên lẫn phản tự nhiên, và cho rằng mọi thứ đều được giải thích trong tự nhiên. Nó xem Đạo của tự nhiên nằm sẵn trong vạn vật, và mọi việc xảy ra trên đời đều là hiện tượng tự nhiên. Ở điểm này, Đạo giáo và Nho giáo có cùng lập trường. Lời nói và việc làm của Khổng Tử trong Luận Ngữ cho thấy ông không tin vào phép lạ. Nho giáo dạy rằng đừng quan tâm đến những thứ như phép lạ, bùa chú, yêu thuật hay mê tín.
Khổng Tử không nói về quái (怪), lực (力), loạn (亂), thần (神). (Luận Ngữ 7:20)
Và Nho giáo cảnh giác, đừng nghiên cứu những học thuyết liên quan đến “quái lực loạn thần” ấy. Để nhấn mạnh điều này, người quân tử (君子, người lãnh đạo) không đóng vai một món đồ đựng, cứ thế đi theo những thứ logic kỳ lạ do người khác đặt ra. Đó là lời cảnh giác trước logic siêu hình, được diễn đạt bằng câu “quân tử bất khí”:
Người quân tử không phải là món đồ đựng (君子不器). (Luận Ngữ 2:12)
Thái độ này còn được Tuân Tử (荀子, khoảng 310–235 TCN), nhà tư tưởng cuối thời Chiến Quốc từng nỗ lực kết hợp tư tưởng Nho gia và Đạo gia, giải thích rõ ràng hơn nữa. Đó là một triết lý đối lập với văn minh phương Tây vốn tin vào phép lạ.
Sao rơi từ trên trời xuống, cây trong rừng kêu thành tiếng. Người ta sợ hãi. Họ sợ không biết đó là điềm gì. Chẳng là điềm gì cả. Chỉ là sự biến đổi của tự nhiên. Chỉ là sự vận hành của âm dương. Chỉ là hiện tượng hiếm khi xảy ra. Thấy hiện tượng ấy lạ thì được, nhưng sợ hãi thì sai. (Tuân Tử 17:8)
Ngược lại, trong văn minh phương Tây, Thượng Đế để lại những việc làm phép lạ, khác với Đạo của phương Đông. Khi Thượng Đế làm phép lạ trao Mười Điều Răn cho Môi-se gần núi Si-na-i, một “giao ước” nghiêm ngặt cuối cùng được lập giữa dân Y-sơ-ra-ên và Thượng Đế. Thượng Đế của phương Tây tiếp tục làm phép lạ và giữ giao ước với dân Y-sơ-ra-ên.42 Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 34:11, Ngài phán: “Hãy giữ cẩn thận điều Ta truyền cho các ngươi hôm nay. Nầy, Ta sẽ đuổi khỏi trước mặt các ngươi dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít.” Thượng Đế còn chỉ cho Giô-suê, người kế vị Môi-se, chiến lược và chiến thuật cần thiết để chinh phục miền đất hứa, cho mưa đá lớn từ trời giáng xuống giết quân địch, và làm mặt trời dừng lại một ngày để đem lại chiến thắng cho Giô-suê.
Đạo của phương Đông không lập bất cứ giao ước nào với con người. Vì thế, không cá nhân, bộ lạc hay quốc gia nào có thể nhận Đạo là của riêng mình. Hệ thống triết học phương Đông tin vào Đạo, một triết học tự nhiên, như chân lý tuyệt đối. Ngược lại, vào thời Hy Lạp – La Mã, các bộ lạc và quốc gia phương Tây đều có thần linh riêng. Niềm tin của phương Tây vào Thượng Đế càng được củng cố sau khi Kitô giáo, một tôn giáo mặc khải, trở thành quốc giáo của La Mã vào thế kỷ IV, và kéo dài suốt một nghìn năm Trung cổ. Vào thời Khai sáng cận đại, ở phương Tây đã nổi lên phong trào phủ nhận phép lạ qua thuyết thần giáo tự nhiên (理神論), nhưng niềm tin rằng Thượng Đế đã tạo dựng vũ trụ vẫn tiếp tục. Đạo của phương Đông và Thượng Đế của phương Tây tiếp cận con người như những hệ thống triết học tự nhiên và tôn giáo mặc khải.
3) Vũ trụ từ đâu đến: Vô (無) vs Hữu (有)
Đạo Đức Kinh và Ngũ Kinh Môi-se, sau khi xác lập lập trường về việc Đạo và Thượng Đế ai có trước, đã giải thích cội nguồn và nguyên lý của vũ trụ. Ở đây, khái niệm mà hệ thống triết học Đông và Tây cùng đưa ra là khái niệm Vô và Hữu. Cội nguồn của vũ trụ là gì? Là không gian trống rỗng, tức Vô, hay là Hữu được lấp đầy, tức các vì sao? Văn minh Đông và Tây khác nhau căn bản ở chỗ cội nguồn của vũ trụ là gì. Văn minh phương Đông giải thích rằng Hữu sinh ra từ Vô và mọi thứ rốt cuộc đều trở về Vô. Đó là quy luật của tự nhiên theo cách phương Đông diễn đạt. Vô và Hữu gắn liền với nhau, nhưng Vô là trung tâm.
Vạn vật trong thiên hạ sinh ra từ Hữu, Hữu sinh ra từ Vô. (Đạo Đức Kinh, chương 40)
Ngược lại, trong văn minh phương Tây, quá trình sáng tạo, được diễn đạt như sự sáng tạo từ hỗn loạn, là cốt lõi. Nhấn mạnh Hữu được tạo dựng, nó giải thích rằng cội nguồn của vũ trụ không phải là Vô, tức phi tồn tại, mà là Hữu, tức tồn tại. Hữu là khởi đầu của tồn tại đã vượt qua Vô. Vô không có ý nghĩa, còn Hữu mang mọi ý nghĩa. Hành động làm phép lạ siêu nhiên của Thượng Đế, tức Hữu, là trung tâm của tồn tại. Hữu được diễn đạt như ánh sáng thay thế bóng tối của Vô.
Đức Chúa Trời phán: Phải có ánh sáng; thì có ánh sáng. (Sáng Thế Ký 1:3)
Triết lý của tôn giáo mặc khải tương thông với tư tưởng mà Parmenides chủ trương ở Hy Lạp thế kỷ V TCN: “chỉ Hữu là chân thật, còn Vô là sự lừa dối”. Trong bài thơ “Về tự nhiên”, Parmenides trình bày một triết học không phải về hiện tượng hay sự biến đổi của tự nhiên, mà về chân lý và tồn tại. Ông chủ trương rằng chỉ Hữu (tồn tại) là chân thật, còn Vô (phi tồn tại) không thể tồn tại: Vô là một điều hư cấu, không thể nói ra cũng không thể nghĩ tới. Ông tin chắc rằng giác quan lừa dối, và chỉ có tinh thần mới nhận thức được chân lý. Ông chủ trương rằng tồn tại là duy nhất, bất biến và vĩnh hằng. Hơn nữa, vì ta không thể nghĩ đến cái không tồn tại, ông diễn đạt trong bài thơ rằng tư duy và tồn tại là một. Những chủ trương này được biết đến qua trích dẫn của các triết gia đời sau như Platon và Aristotle, và đã góp phần quyết định vào việc làm nảy sinh trào lưu siêu hình học trong hệ thống triết học phương Tây.
Hai cách tiếp cận hoàn toàn khác nhau để hiểu thế giới đã được hình thành và kéo dài hàng nghìn năm. Hai cách tiếp cận ấy liên quan đến thế sự, đến cách hiểu thế giới và tự nhiên, và đến những cách tiến triển khác nhau của tư duy. Những cách khác nhau ấy, cách của phương Tây và cách của phương Đông, được sản sinh và lớn lên riêng rẽ, không chịu ảnh hưởng của nhau. 43
Trong vũ trụ quan phương Đông, Vô không chỉ đơn thuần có nghĩa là “không có”, mà là một khái niệm đối lập với Hữu. Theo thuyết biến hóa của phương Đông, Vô và Hữu chuyển hóa lẫn nhau. Vô biểu thị một tồn tại căn bản hơn, cái chưa được tạo thành, hay trạng thái nguyên sơ trước khi thế giới hình thành. Còn Hữu có nghĩa là thế giới ta trải nghiệm hằng ngày, trạng thái luôn biến đổi, thế giới của sinh thành và tiêu vong. Vì thế, vô cực (無極) hay Vô trong Đạo giáo không chỉ đơn thuần có nghĩa là “không có”. Nó chỉ một tồn tại hay trạng thái sâu xa và căn bản hơn, có trước Hữu, khó nhận biết bằng giác quan thường ngày của chúng ta.
Cái không thể gọi tên là cội nguồn của trời đất, cái có thể gọi tên là mẹ của vạn vật…… Hai điều ấy rốt cuộc là một, nhưng vì hiển hiện ra mà tên gọi khác nhau.
(Đạo Đức Kinh, chương 1)
Ở phương Tây, một tập tranh khắc gỗ đã được xuất bản, dùng hình vẽ và lời giải thích để thể hiện những sự kiện chính của Kinh Thánh như khởi đầu của việc tạo dựng vũ trụ, ngày đầu tiên của thế giới… Tập tranh được làm ở Nuremberg, nước Đức, được gọi là “Biên niên sử Nuremberg” (Nuremberg Chronicle), và in lần đầu năm 1493. Tập tranh mở đầu bằng bức tranh khắc về ngày đầu tiên của việc tạo dựng trời đất. Nó làm nổi bật, trong văn minh phương Tây, sự tồn tại của Hữu được tạo dựng từ Vô, tức từ hỗn loạn. Nó báo hiệu sự khởi đầu của việc tạo dựng, từ chaos (hỗn loạn) đến universe (trật tự). Với việc Hữu được tạo dựng, Vô, tức phi tồn tại, biến mất. Mọi cá thể có được nhờ sự tạo dựng đều dựa trên một “thuyết tồn tại bất biến”.
Từ thế kỷ XV, gần cùng thời điểm Biên niên sử Nuremberg được xuất bản, Đạo giáo bắt đầu dùng Thái cực đồ, hình vẽ chứa đựng vũ trụ quan phương Đông. Thái cực đồ bắt đầu từ vô cực, nghĩa là Vô, và tạo thành thái cực. Thái cực chia thành hai phần, tượng trưng cho âm và dương. 44 Hình vẽ Thái cực đồ bắt đầu được dùng từ thế kỷ XV, nhưng khái niệm âm dương chứa trong đó đã được mô tả rõ ràng trong Đạo Đức Kinh ra đời từ hai nghìn năm trước: “Vạn vật cõng âm mà ôm dương” (Đạo Đức Kinh, chương 42). Vũ trụ quan này bày tỏ nguyên lý của một vũ trụ trong đó vạn vật hài hòa với nhau trong một “thuyết biến hóa gồm âm và dương”.
4) Vũ trụ vận hành ra sao: thuyết biến hóa (變化論) vs thuyết tồn tại (存在論)
Đông và Tây đặt “cội nguồn của vũ trụ”, tức gốc rễ của vũ trụ, ở hai phía ngược nhau. Phương Đông hiểu thế giới như sự biến đổi và quan hệ không ngừng, còn phương Tây nắm bắt thế giới qua bản chất và cấu trúc của tồn tại. Nói cách khác, phương Đông chú ý đến việc “mọi thứ đều biến đổi”, còn phương Tây tập trung vào “cái gì tồn tại”. Lối tư duy ấy bắt nguồn từ khác biệt giữa Đông và Tây về cội nguồn vũ trụ, tức vũ trụ từ đâu đến: Vô (無) của phương Đông và Hữu (有) của phương Tây. Từ khác biệt về “cội nguồn vũ trụ”, Đông và Tây đặt ra “nguyên lý vũ trụ” khác nhau: thuyết biến hóa của phương Đông và thuyết tồn tại của phương Tây.
Ở phương Đông, khi mọi thứ biến đổi từ Vô sang Hữu, cả Vô lẫn Hữu đều có giá trị. Thuyết biến hóa giữa Vô và Hữu là cốt lõi. Còn phương Tây lấy thuyết tồn tại, vốn trao mọi giá trị cho Hữu, tức tồn tại, làm cốt lõi của tư duy triết học. Đó là khác biệt giữa “thuyết biến hóa của Vô” và “thuyết tồn tại của Hữu”. Phương Đông nắm bắt tồn tại như sự biến đổi trong dòng chảy và quan hệ. Phương Tây xem tồn tại là thực thể và bản chất cố định.
Triết học phương Tây xuất phát từ câu hỏi về thực thể “Tồn tại là gì?”, và hành động được hiểu như cách làm lộ ra bản chất của tồn tại. Con người được nhấn mạnh như một chủ thể độc lập, trung tâm tự quy định hành động của mình qua lựa chọn và tự do của bản thân. Theo đó, tính duy lý được coi trọng, hành động được đánh giá theo chuẩn mực logic và luân lý, và các quy phạm hình thành trong quá trình tìm hiểu ý nghĩa của tồn tại. Thuyết biến hóa của phương Đông là một tư duy triết học về vũ trụ quan, đối lập với thuyết tồn tại của phương Tây. Cốt lõi của triết học phương Tây là thuyết tồn tại, tức tồn tại bắt đầu từ việc Thượng Đế tạo dựng trời đất. Thuyết tồn tại nhấn mạnh tầm quan trọng của luật pháp dựa trên một bản tính con người bất biến. Luật pháp của Do Thái giáo là mặc khải mà các nhà tiên tri Do Thái nhận từ Thượng Đế, là “lời của Thượng Đế” (Word of God). Điều được coi trọng là Thượng Đế, với tư cách “Tồn tại tối hậu” (Ultimate Being), là sự hiển lộ của tồn tại được tạo dựng: Hữu (有) là khởi đầu của mọi thứ. Trong thế sự phương Tây, truyền thống và triết lý coi trọng luật pháp dựa trên tư tưởng hữu vi vẫn tiếp tục nguyên vẹn cho đến xã hội hiện đại. Người ta nắm bắt tồn tại như “thực thể cố định” và trôi về một thứ siêu hình học khảo cứu bản chất và cấu trúc của tồn tại. Phương Đông nhấn mạnh một thế giới quan động và tổng hợp, còn phương Tây nhấn mạnh một thế giới quan tĩnh và phân tích.
Khi văn minh phương Tây phát triển, truyền thống và triết lý ấy phát triển thành hình thức coi trọng luật lệ, thể chế và mô hình của phương Tây. Xin nhắc lại, triết lý này dựa trên thuyết tồn tại, cho rằng cái được tạo dựng sẽ tồn tại mãi mãi. Vì thế, phương Tây coi thể chế và mô hình của mình là dựa trên một thuyết tồn tại vĩnh hằng, nên gán cho chúng tầm quan trọng lớn lao; và vì các thể chế, mô hình ấy gắn với tổng thể, phương Tây coi trọng chúng và biến chúng thành phương tiện truyền bá văn minh phương Tây.
Thuyết biến hóa là khái niệm then chốt để hiểu văn minh phương Đông, nhưng vì phương Tây chìm đắm trong siêu hình học của thuyết tồn tại, đó là một khái niệm khó hiểu đối với phương Tây. Trong tiếng Anh, thuyết biến hóa có thể được diễn đạt là transformationism, còn thuyết tồn tại là ontology. 45 Văn minh phương Đông hiểu sự biến đổi của vũ trụ theo quan điểm của Dịch (易). Chữ 易 có nghĩa là “biến đổi”. Nó bắt nguồn từ một chữ tượng hình tượng trưng cho sự đổi màu da của con thằn lằn, hoặc sự biến đổi tuần hoàn của mặt trời và mặt trăng. Khái niệm thuyết biến hóa đã được chấp nhận rộng rãi ở phương Đông từ thiên niên kỷ III TCN. Kinh Dịch (易經), chứa đựng thuyết biến hóa, là kinh điển triết học cổ nhất của Trung Hoa, bắt đầu vào khoảng thiên niên kỷ I TCN, và đã gieo thuyết biến hóa vào triết học Đạo gia và Nho gia.46
Biến đổi là thuộc tính căn bản của thực tại. Thuyết biến hóa mà cơ học lượng tử của vật lý hiện đại đưa ra cũng chia sẻ thuộc tính này. Nó đối lập với thuyết tồn tại của vật lý cổ điển, trong đó các thực thể độc lập tồn tại. Nguyên lý vũ trụ theo cách nhìn của phương Đông là thuyết biến hóa qua lại giữa Vô và Hữu. Tư duy phương Đông không xuất phát từ một tồn tại bất biến, mà từ thuyết biến hóa, cho rằng mọi thứ luôn biến đổi. Thuyết biến hóa là triết học muốn hiểu tồn tại không phải như thực thể cố định, mà như quan hệ và quá trình. Phân tích theo thuyết biến hóa, “tồn tại” có nghĩa là “biến đổi”.
Trong vũ trụ luận phương Tây, Vô không tồn tại, nên đó là một “vũ trụ luận của Hữu”. Chỉ tập trung vào sự tồn tại của Hữu, nó được giải thích về mặt triết học là thuyết tồn tại. Parmenides chủ trương: “Tồn tại không sinh ra, không mất đi, là toàn thể, bất biến và hoàn hảo. Nó đã tồn tại trong quá khứ, đang tồn tại và sẽ mãi mãi như thế trong tương lai.” Ông chủ trương: “Phi tồn tại không thể nói ra, không thể nghĩ tới, và không tồn tại. Chỉ cái tồn tại mới có thể nghĩ tới.” Thuyết tồn tại này trở thành nền tảng cho thuyết thị hiển và siêu hình học của Platon và Aristotle. Cốt lõi của vũ trụ luận phương Tây, một vũ trụ luận “tạo dựng tồn tại”, nằm ở Hữu. Hữu, được tạo dựng từ hỗn loạn của chaos, nhờ thuyết tồn tại mà giữ nguyên những thuộc tính bất biến. 47
Thuyết tồn tại của phương Tây càng được củng cố khi tư tưởng triết học kết hợp với niềm tin tôn giáo. Trong tư duy của tôn giáo mặc khải, nền tảng là thuyết tồn tại cho rằng cái Thượng Đế tạo dựng thì không được biến đổi. Ở phương Tây, ngay cả khi thừa nhận sự biến đổi, người ta vẫn coi trọng yếu tố bất biến bên trong sự biến đổi, và vẫn xử lý nó trong khuôn khổ của thuyết tồn tại. Đó là chủ trương trong triết học Platon rằng đằng sau những biến đổi của hiện thực là các Ý niệm (Idea), những bản chất bất biến: một thuyết tồn tại cho rằng biến đổi là hiện tượng phụ, còn bản chất là bất biến. Lối tư duy này được Descartes kế thừa vào thế kỷ XVII. Họ xây dựng hệ thống triết học của mình bằng cách coi vật chất hay tinh thần, những thực thể bất biến, là nền tảng của tồn tại. Vì thuyết tồn tại và siêu hình học dựa trên nó hết sức quan trọng ở phương Tây, Descartes được gọi là cha đẻ của triết học cận đại.
Quan điểm của thuyết biến hóa phương Đông được phản ánh nguyên vẹn trong hệ thống triết học phương Đông. Không ở đâu trong kinh điển phương Đông có khái niệm đấng sáng tạo hay sự sáng tạo. Mọi thứ trong vũ trụ và tự nhiên không phải là kết quả của một hành động như sáng tạo, mà vốn đã có, và nhờ liên tục biến đổi mà tạo nên những hiện tượng ta thấy. Nhìn vũ trụ bao la, mọi thứ đều luôn chuyển động và biến đổi. Không có gì từng ngơi nghỉ. Biến đổi không có mục đích, cũng không thể nắm bắt cốt lõi của nó. Vì thế, tính bất biến của thuyết biến hóa, theo một nghĩa nào đó, là nền tảng làm cho mọi biến đổi trở nên khả dĩ. Từ triết lý ấy, tức từ sự biến đổi của vũ trụ, nảy sinh khái niệm Đạo, thứ đi theo dòng chảy của biến đổi.
Thuyết biến hóa của phương Đông là triết học muốn hiểu vũ trụ qua quan hệ giữa cái không có (Vô) và cái có (Hữu). Vô không chỉ đơn thuần là sự không có, mà là cội nguồn làm cho Hữu trở nên khả dĩ. Vô là khả năng của sáng tạo, còn Hữu là sự hiện thực hóa của nó. Cội nguồn của vũ trụ là Vô, và Vô không phải là trống rỗng, mà là cội nguồn của tiềm năng và khả năng. Dòng chảy của vũ trụ là sự vận động của Vô và Hữu; qua sinh diệt và thịnh suy, qua biến đổi âm dương, vũ trụ không ngừng tuần hoàn giữa Vô và Hữu. Thuyết biến hóa có nghĩa là “chính sự biến đổi là nguyên tắc của vũ trụ”, chứ không phải tồn tại. Nói cách khác, nó không đặt trọng tâm vào “sự biến đổi của các cá thể tồn tại”, mà vào “chính sự biến đổi”, và không đặt trọng tâm vào các cá thể, vì nhờ biến đổi mà các cá thể cũng biến đổi.
Ngược lại, thuyết tồn tại lấy cá thể tồn tại làm trung tâm. Cá thể ấy giữ nguyên giá trị tồn tại của nó, bất kể sự biến đổi. Từ đây, siêu hình học, gồm bản thể luận (ontology), mục đích luận (teleology) và nhận thức luận (epistemology) nhận biết chúng, trở thành cốt lõi của triết học phương Tây. Trong hệ thống triết học phương Tây, cái đối lập với tồn tại là phi tồn tại. Với lối tư duy lấy phương Tây làm trung tâm như vậy, không thể so sánh Đông và Tây. Trong việc so sánh Đông và Tây, thuyết tồn tại chỉ có thể được đối chiếu không phải với phi tồn tại, mà với thuyết biến hóa: đối trọng của Hữu không phải là Vô, mà là “sự biến hóa giữa Vô và Hữu”. Rốt cuộc, thuyết biến hóa và thuyết tồn tại đặt tư duy của hai nền văn minh Đông Tây trên những hệ thống triết học hoàn toàn khác nhau. Những gì Thượng Đế tạo dựng đều phải có mục đích. Những hệ thống triết học mang khuynh hướng siêu hình như bản thể luận, mục đích luận, nhận thức luận không thể phát triển trong tư duy phương Đông, vốn lấy thuyết biến hóa làm cốt lõi, và chúng trở thành những khái niệm không quan trọng trong triết học phương Đông.48
Theo thuyết biến hóa, vũ trụ không phải là thực thể cố định như thuyết tồn tại giả định, mà là một quá trình biến đổi. Vũ trụ hay tự nhiên không phải là mục đích hay công cụ như thuyết tồn tại giả định, mà là cái tự nó như vậy, biến đổi mãi mãi theo thuyết biến hóa. Trong cơ học lượng tử của vật lý hiện đại, Vô của trạng thái chân không là một không gian của khả năng, không hề trống rỗng. Trong vật lý cổ điển, chân không không có ý nghĩa gì, chỉ là khoảng trống nơi vật chất và năng lượng tuyệt đối hoạt động. Vì thế, trong thuyết tồn tại của phương Tây, trí tuệ đích thực của con người là hữu vi, đi theo sự sáng tạo bắt nguồn từ Hữu. Nhưng ở phương Đông, trí tuệ đích thực của con người là vô vi (無爲), đi theo không phải Hữu luôn biến đổi, mà là “Vô, cội nguồn của Hữu”.
Ở phương Tây, thuyết biến hóa đã được Heraclitus của Hy Lạp bày tỏ. “Không ai có thể bước hai lần xuống cùng một dòng sông” là câu nói nổi tiếng về sự biến hóa mà ông để lại. Nhưng thuyết biến hóa của ông bị lấn át bởi triết học của Parmenides, mà thuyết thị hiển phương Tây kế thừa sau Socrates, và biến mất. Ở phương Tây, phải đến thế kỷ XX mới có những triết gia như Whitehead chủ trương thuyết biến hóa.49 Ông cho rằng vũ trụ là tổng thể những quá trình không ngừng được sáng tạo và hình thành, là chuỗi sự kiện nối tiếp, và không có thực thể cố định. Thuyết biến hóa lấy tính năng động, bản chất của thực tại, làm trung tâm: sinh thành, tiêu vong, tương tác. Do đó, sự vật không được định nghĩa như những thực thể độc lập, mà trong “quá trình” hay “quan hệ”.
Triết học phương Đông lý giải hai nguyên lý căn bản là Hữu và Vô không tồn tại độc lập, mà bổ sung cho nhau và luôn biến đổi. Vì thế, sự quan tâm hay suy luận về một thuyết tồn tại bàn về tồn tại bất biến đã không phát triển trong văn minh phương Đông. Việc bản thể luận hay nhận thức luận kiểu phương Tây không phát triển trong lịch sử triết học phương Đông có thể được giải thích bằng thuyết biến hóa của phương Đông. Thay vào đó, phương Đông phát triển triết lý về thế (勢), tức nắm bắt và vận dụng dòng chảy ẩn trong sự biến đổi, cùng với triết lý về thuật (術) dựa trên nhân tính, và một quan niệm luân lý coi trọng luân lý (倫理) hơn luật pháp. Ở trung tâm của văn minh phương Đông là hệ thống triết học về thế (勢), thuật (術) và một thứ pháp (法) đặt luân lý lên trước, cùng với triết lý thực tiễn về luân lý chính trị và kinh tế chính trị dựa trên đó. Hệ thống triết học về pháp đặt luân lý lên trước, về thế và thuật, là những khái niệm không thể phát triển trong tư duy phương Tây vốn dựa trên thuyết tồn tại.
Cho đến khoảng thiên niên kỷ I TCN, văn minh phương Đông, cũng như phương Tây, dùng khái niệm cương nhu (剛柔, cứng và mềm) và đánh giá giá trị của cái cứng cao hơn cái mềm. Nhưng từ sau khoảng thiên niên kỷ I TCN, khuynh hướng coi trọng cái mềm hơn cái cứng trở nên rõ rệt. Thời kỳ này cho thấy bước ngoặt khi tư duy âm dương thay thế thuyết cương nhu và trở thành tư duy quan trọng của văn minh phương Đông.50 Bằng chứng xuất hiện trong Kinh Dịch: cho đến khoảng thiên niên kỷ I TCN, Kinh Dịch dùng thuyết cương nhu, rồi qua thời kỳ đó thì tư duy âm dương thay thế nó. Sự thay đổi tư duy này được thể hiện trong những giá trị cốt lõi của Đạo giáo và Nho giáo, đại diện cho triết học phương Đông. Đạo giáo và Nho giáo đề cao sự mềm mại, nhu hòa, tiết chế và tu dưỡng bản thân.
So sánh văn minh Đông và Tây, ta phát hiện một sự thật thú vị. Cần lưu ý rằng thời kỳ thuyết cương nhu được thay bằng tư duy âm dương trong văn minh phương Đông gần như trùng với thời kỳ đa thần giáo được thay bằng nhất thần giáo trong văn minh phương Tây. Khi đa thần giáo tràn ngập phần lớn phương Tây và Trung Đông, nhất thần giáo đã xuất hiện ở Ai Cập, Ba Tư và xứ Giu-đê. Thời điểm này có thể ước chừng vào khoảng thiên niên kỷ I TCN. Sau thời kỳ ấy, ở phương Đông tư duy âm dương lan rộng thay cho thuyết cương nhu, còn ở phương Tây nhất thần giáo lan rộng thay cho đa thần giáo.
Kinh Dịch (易經) vs sấm truyền (神託): Kinh Dịch sống mãi trong tư tưởng phương Đông qua Đạo giáo và Nho giáo
Suốt hàng nghìn năm, Kinh Dịch và sấm truyền đã đóng vai trò đoán định tương lai vào những thời khắc quan trọng trong lịch sử Đông và Tây. Ở cách sử dụng Kinh Dịch và sấm truyền, khác biệt giữa thuyết biến hóa của phương Đông và thuyết tồn tại của phương Tây lộ rõ. Chữ 神託 có nghĩa là thần (神) mượn (託) thân xác con người để trả lời câu hỏi của con người. Một người trung gian xuất hiện giữa thần và người. Nữ tư tế sống trong đền thờ và truyền đạt sấm truyền có vai trò tương tự nhà tiên tri trong tôn giáo mặc khải. Vì tương lai đã được thần, một đấng siêu việt, định sẵn, người ta muốn biết trước điều đó qua người trung gian. Quyết định của thần mang sức thuyết phục mạnh mẽ rằng con người phải tuân theo. Vì vậy, tâm lý cầu xin sức mạnh nơi một đấng tuyệt đối vốn nằm sẵn trong bản tính con người.
Nhưng thời đại của sấm truyền, khi con người tin vào phép lạ và vào logic rằng thần linh trực tiếp can thiệp vào thế sự, đã lùi vào lịch sử cùng với sự phát triển của khoa học. Những hệ thống tư tưởng nảy sinh từ thời Khai sáng, thuyết thần giáo tự nhiên và chủ nghĩa duy lý ở phương Tây đã biến sấm truyền phương Tây thành di vật của thời Hy Lạp – La Mã. Nhưng Kinh Dịch của phương Đông, ít nhất là thuyết biến hóa của Kinh Dịch, vẫn còn hữu ích nguyên vẹn như cốt lõi của tư tưởng phương Đông. Đặc biệt, đó là vì theo tính dung hợp (syncretism), đặc trưng của văn minh phương Đông, thuyết biến hóa của Kinh Dịch được phản ánh nguyên vẹn trong hệ thống triết học của Đạo giáo và Nho giáo. Tư tưởng vô vi của Đạo giáo và tư tưởng quân tử của Nho giáo đều gắn với thuyết biến hóa của Kinh Dịch.
Tư tưởng Kinh Dịch của phương Đông dựa trên thuyết biến hóa: tương lai của con người không định sẵn, mà trôi chảy theo sự tương tác giữa tự nhiên và con người. Điều quan trọng là con người nắm bắt dòng chảy ấy để tác động đến dòng chảy của tương lai. Sấm truyền, tức oracle, của phương Tây vận hành theo thuyết định mệnh, còn lựa chọn của Kinh Dịch vận hành trong khuôn khổ của thuyết biến hóa, bao gồm cả lựa chọn của con người:
Mọi hoàn cảnh của con người đều tùy thuộc vào việc người ấy hành động tốt hay xấu. Vai trò của Kinh Dịch là giúp con người chọn hành động tốt. Vì thế, Kinh Dịch thuộc một tầm hoàn toàn khác với việc bói toán đoán trước tương lai 51
Kinh Dịch vượt lên trên tính chất của một cuốn sách bói toán chỉ đơn thuần đoán trước tương lai và truyền đạt quyết định của trời cho con người như một số phận đã định sẵn.52 Điều Kinh Dịch mang lại cho con người không chỉ là một bản dự định “tương lai sẽ như thế này”, mà là khoảng trống cho lựa chọn: “Ta nên làm gì?” Vì vậy, trong Kinh Dịch của phương Đông, khác với sấm truyền của phương Tây, vai trò của con người được coi trọng. Ba hào của mỗi quẻ tượng trưng cho trời, đất, và ở giữa là vai trò của con người. Phải quan sát kỹ thiên thời và địa lợi, nhưng trong khuôn khổ ấy, con người phải tìm ra vai trò phù hợp nhất với mình và thực hiện nó, để tự quyết định và khai phá vận mệnh của mình.
Theo Kinh Dịch, mọi hoàn cảnh đều có hành động tương ứng của con người. Trong mỗi hoàn cảnh nhất định, hành động đúng và hành động sai tồn tại như những lựa chọn. Kinh Dịch không chỉ là sách tiên tri hay sách bói toán, mà là một tác phẩm triết học chứa đựng trí tuệ và luân lý. “Không được không bói, cũng không được hoàn toàn tin vào quẻ bói. Nhưng nhất định phải tham khảo quẻ bói” (chiếu chỉ vua Sejong ban cho vị chỉ huy cuộc Bắc phạt, trong Triều Tiên vương triều thực lục). Hành động đúng đem lại may mắn, còn hành động sai đem lại rủi ro.
Vậy, trong mỗi hoàn cảnh nhất định, hành động đúng là gì? Tìm ra điều đó chính là việc con người phải quyết định trong hoàn cảnh của mình. Kinh Dịch nhấn mạnh rằng nếu hành động của con người được thực hiện càng sớm càng tốt ở giai đoạn đầu của một hoàn cảnh luôn biến đổi, nó có thể ảnh hưởng lớn hơn đến tương lai. Kinh Dịch mang tính luân lý mạnh mẽ, và có ý nghĩa là được dùng như trí tuệ để khai phá hoàn cảnh.
Nhiều người mơ hồ coi Kinh Dịch là một cuốn sách bói toán, hay một trong những kinh điển cổ xưa huyền bí của phương Đông.53 Nhưng vị trí của Kinh Dịch trong văn hóa phương Đông lớn đến mức nó xác lập vũ trụ quan phương Đông và quan hệ giữa tự nhiên và con người.
Trong văn hóa phương Đông, qua hàng trăm năm tương tác với Đạo giáo, Nho giáo và các học phái khác, Kinh Dịch đã đặt triết lý của mình vào nền móng của tư tưởng phương Đông. Trong quá trình Dịch truyện (易傳) được hình thành và hoàn thiện vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, giữa Kinh Dịch, Đạo giáo và Nho giáo đã hình thành một quan hệ sâu sắc trao đổi tư tưởng với nhau. Trong quá trình học tập và diễn giải Chu Dịch, các học giả Đạo gia và Nho gia đã hấp thu triết lý và định hướng hàm chứa trong Chu Dịch vào tư tưởng Đạo gia và Nho gia, và phát triển chúng. Qua sự giao lưu ấy, Chu Dịch đã phát triển hệ thống tư tưởng vốn có trong Kinh Dịch thông qua Đạo giáo và Nho giáo, và nhờ các sách chú giải, Chu Dịch còn bao hàm thêm những tư tưởng chịu ảnh hưởng của Đạo giáo và Nho giáo như tự nhiên quan, luân lý quan, triết học chính trị. Vì ảnh hưởng sâu sắc của Kinh Dịch đối với Đạo giáo và Nho giáo, ảnh hưởng của Kinh Dịch đến nay vẫn hiện diện sống động ở các nước thuộc vùng văn hóa Đạo giáo – Nho giáo.
Không còn nghi ngờ gì, Kinh Dịch là một trong những cuốn sách quan trọng nhất thế giới… Đó là cuốn sách quan trọng và ý nghĩa bậc nhất, chứa đựng ba nghìn năm lịch sử văn hóa Trung Hoa. Toàn bộ lịch sử văn hóa Trung Hoa hoặc lấy cảm hứng từ cuốn sách này, hoặc đã ảnh hưởng đến cách diễn giải nó. Vì vậy, Kinh Dịch chứa đựng trí tuệ được mài giũa qua hàng nghìn năm. Việc Nho giáo và Đạo giáo, trung tâm của triết học Trung Hoa, đều dựa trên triết lý của Kinh Dịch là điều đương nhiên. 54
Điều quan trọng nhất theo góc nhìn này là vũ trụ quan tự nhiên luận và thuyết biến hóa hàm chứa trong Kinh Dịch kết hợp làm một với triết lý luân lý, chính trị và kinh tế hàm chứa trong tư tưởng Đạo giáo và Nho giáo. Điều đó có nghĩa là luân lý, chính trị và triết học phương Đông được xây dựng trên nền tảng tự nhiên và hình thành xoay quanh tự nhiên. Tầm quan trọng của hệ thống triết học này được phản ánh trong hệ thống triết học của Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Đặc biệt, nó còn được biểu trưng ngay trên quốc kỳ (國旗).55
Ở phương Tây, lý thuyết cho rằng nên xây dựng nền tảng triết học lấy tự nhiên làm trung tâm được Bacon, Spinoza và những người khác chủ trương vào đầu thời Khai sáng, muộn hơn hai nghìn năm. Điều đó trở nên khả dĩ khi phương Tây thoát khỏi truyền thống tôn giáo mặc khải. Để nhấn mạnh tầm quan trọng của tự nhiên đối với triết học, Bacon tuyên bố: “Sự hiểu biết của con người chỉ đến từ suy nghĩ về tự nhiên và từ quan sát chân lý mà tự nhiên cho thấy. Ngoài điều đó ra, con người không thể biết gì và cũng không thể làm gì.” Spinoza còn đi xa hơn khi tuyên bố rằng “Thượng Đế đồng nhất với tự nhiên”.
Mối tương quan triết học giữa Kinh Dịch, Đạo giáo và Nho giáo thể hiện ở chỗ hệ thống triết học của Kinh Dịch về vũ trụ luận và thế sự được phản ánh nguyên vẹn trong tư tưởng vô vi của Đạo giáo và tư tưởng quân tử của Nho giáo. Cốt lõi của tư tưởng quân tử của Nho giáo là tầm quan trọng của luân lý. Điểm xuất phát của tư tưởng quân tử là luân lý phải đi trước luật pháp. Đồng thời, tư tưởng vô vi của Đạo giáo, đối lập với tư tưởng hữu vi của phương Tây, dựa trên thuyết biến hóa của Kinh Dịch. Vì Đạo là vĩnh hằng, bất biến và không thuộc về ai, nó vừa trao cho luân lý tính tuyệt đối, vừa khiến không ai có thể tuyên bố hay tuyên bố đã tìm ra một nền luân lý tuyệt đối. Nho giáo nhấn mạnh đặc tính ấy của luân lý, và điều này khác xa giáo điều tôn giáo của phương Tây. Khổng Tử nhấn mạnh: “Đứng trước điều nhân (仁), không nhường cả thầy” (Luận Ngữ 15:35), còn Mạnh Tử giải thích: “Tin hết vào Thượng Thư (書經) thì chẳng bằng không có Thượng Thư” (Mạnh Tử 7, Tận Tâm hạ 盡心章句下). Ngược lại, Kitô giáo khẳng định rõ thái độ của mình về tầm quan trọng của luật pháp qua một điều luật minh bạch: “Luật của Đức Chúa Trời có hai điều. Thứ nhất là tôn thờ Đức Chúa Trời, thứ hai là yêu người lân cận như chính mình.” (Mác 12:30-31, Ma-thi-ơ 22:36-40). Điều đó có nghĩa là văn minh Đông và Tây lần lượt được hình thành xoay quanh luân lý và luật pháp.
Khác biệt giữa luân lý và luật pháp bắt nguồn từ khác biệt căn nguyên giữa văn minh Đông và Tây: Đạo và Thượng Đế, tức thuyết bất hiển và thuyết thị hiển. Đạo giáo đã phát triển những tư tưởng về vũ trụ quan, luân lý quan và thuyết nhân tính vốn hàm chứa trong Kinh Dịch, và xây dựng một hệ thống tư tưởng tổng hợp về quan hệ giữa con người và tự nhiên, dựa trên tự nhiên. Nhờ phó thác việc suy xét quan hệ giữa tự nhiên và con người cho tư tưởng âm dương của Kinh Dịch và tư tưởng Đạo của Đạo giáo, Nho giáo có thể tập trung vào tư tưởng luân lý và chính trị. Kinh Dịch vốn khởi đầu là sách bói toán, nhưng nhờ những nỗ lực mở rộng và đào sâu nó thành sách triết học, sách tư tưởng như Hệ từ truyện (繫辭傳), nó cùng với Đạo Đức Kinh và Luận Ngữ lưu giữ trí tuệ phương Đông ở tầm vũ trụ luận. So sánh với các tôn giáo mặc khải của phương Tây có bối cảnh thời gian tương tự Kinh Dịch của phương Đông, ta có thể cảm nhận được khác biệt giữa văn minh Đông và Tây. So với kinh điển của Do Thái giáo và Kitô giáo, vốn dựa trên luật pháp nghiêm ngặt do Thượng Đế ban, ta có cơ hội chạm đến cốt lõi của văn minh phương Đông, lấy luân lý làm nền và tự sức mình khai phá cuộc đời.
Kinh Dịch dựa trên khái niệm âm dương chứ không phải thiện ác. Trong một thế giới luôn biến đổi, thuyết tồn tại vĩnh hằng hay tư duy thiện ác không thể áp dụng được. Khái niệm âm dương không tĩnh mà động. Trong âm có mầm dương, trong dương có mầm âm. Hai bên chỉ đơn giản mang tính chất bổ sung cho nhau mà biến đổi. Như vậy, “Dịch” không đề cao “lấy bản ngã làm trung tâm” dựa trên thuyết tồn tại, mà đề cao “lấy quan hệ làm trung tâm” của tư duy âm dương. Cách tiếp cận triết học này tạo nền tảng cho tư duy của văn minh phương Đông.
Kinh Dịch nguyên thủy đã tồn tại hơn hai nghìn năm trước thời Xuân Thu Chiến Quốc, trước khi Đạo giáo và Nho giáo ra đời, biến đổi và tiến hóa, và hình thành một nền tảng lớn của tư tưởng phương Đông. Điều này có thể thấy qua điển tích vi biên tam tuyệt (韋編三絶) mà Khổng Tử để lại: Khổng Tử đọc Kinh Dịch chăm chỉ đến mức dây da buộc các thẻ tre của Kinh Dịch đứt ba lần. Cần chú ý rằng các quẻ và hào, nền tảng của Kinh Dịch, đã được dùng làm ký hiệu và biểu tượng trong một thời gian dài trước khi chữ viết ra đời. Điều này có nghĩa là ngay từ buổi đầu của văn minh phương Đông, Kinh Dịch đã xác lập và củng cố nền tảng cũng như định hướng của tư tưởng và khái niệm phương Đông: triết lý diễn giải sự biến đổi của vạn vật bằng hào cương và hào nhu, tức tư tưởng âm dương, cùng tự nhiên quan hàm chứa trong đó, đã được xác lập qua Kinh Dịch.
Kinh Dịch gắn bó sâu sắc với Nho giáo đến mức vào những thời nhà Nho nắm quyền, nó thường là một môn thi trong khoa cử. Vì vậy, Kinh Dịch trở thành một trong những kinh điển của Nho giáo và giữ vị trí quan trọng trong Nho giáo. Tất nhiên, khác với Luận Ngữ, Đạo Đức Kinh không trực tiếp nhắc đến Kinh Dịch, nhưng rải rác trong Đạo Đức Kinh có nhiều câu phản ánh những ý tưởng chứa trong Kinh Dịch. Đạo giáo cũng gắn bó sâu sắc với Kinh Dịch đến mức lấy Thái cực đồ, vốn bắt nguồn từ Kinh Dịch, làm biểu tượng của mình. Rốt cuộc, Kinh Dịch đóng vai trò cội nguồn chung của vũ trụ quan, thuyết nhân tính và luân lý quan cho Nho giáo và Đạo giáo, hai dãy núi lớn của văn minh phương Đông.
Ở đây, thời điểm hành động là quan trọng. Theo đuổi “sự lựa chọn vô vi” phản ánh một lựa chọn chiến lược nhằm giảm bớt nỗ lực không cần thiết bằng cách hành động thích đáng ngay từ giai đoạn đầu. Nó theo một triết lý tiên liệu tương lai và, qua hành động sớm dựa trên đó, để kết quả hiện ra một cách tự nhiên, theo lối vô vi. Cách làm này chỉ ra hướng giảm thiểu lãng phí năng lượng không cần thiết và tập trung vào hiệu quả cùng việc đạt mục tiêu.
Mục đích của Kinh Dịch là giúp ta quan sát quá trình biến đổi và can thiệp vào giai đoạn sớm nhất có thể. Giai đoạn đầu là then chốt. Khi can thiệp vào một tình thế đang biến đổi, càng ở giai đoạn đầu thì càng dễ nắm quyền chủ động với dòng chảy. Can thiệp muộn là vô ích, vì mọi thứ đã thành hình, hành động gì cũng không thay đổi được kết quả 56
Kinh Dịch cũng được chú ý ở phương Tây. Đầu thế kỷ XVIII, thời Khai sáng, Leibniz đã nắm được tư tưởng chứa trong Kinh Dịch; năm 1835, linh mục Dòng Tên Régis cho xuất bản Kinh Dịch bằng tiếng Latinh ở Đức; và về sau Carl Jung đã tập trung nghiên cứu và tỏ ra rất quan tâm đến Kinh Dịch. Leibniz nhận định rằng Kinh Dịch và tư tưởng âm dương của phương Đông dùng một hệ thống ký hiệu dựa trên tự nhiên để đưa ra cho con người những chỉ dẫn thực tiễn và luân lý. Nhìn các quẻ của Chu Dịch, ông liên hệ chúng với hệ nhị phân và ứng dụng vào toán học phương Tây: hào âm (--) có thể ứng với 0, hào dương (─) ứng với 1. Người ta nói rằng ông đã lấy cảm hứng từ Kinh Dịch khi phát triển hệ nhị phân, cơ chế cốt lõi của hệ thống máy tính.57